Giải Ngữ Văn 9 - Tập 1 trang 99

Lời giải chi tiết SGK Lớp 9 · Môn Ngữ Văn · Trang 99–100

Đây là phần thân của một văn bản nghị luận văn học, phân tích nhân vật Quỳnh trong sáng tác của Nguyễn Nhật Ánh, bàn về vấn đề "nhân dạng" con người. Trang không có bài tập tính toán, chỉ có các hộp gợi ý đọc ("Theo dõi", "Chú ý") đặt bên lề. Mình sẽ tóm tắt lý thuyết và trả lời từng câu hỏi trong các hộp đó.


Tóm tắt nội dung văn bản (trang 97–98)

Văn bản triển khai luận điểm: nhân dạng (ngoại hình) tưởng là cái bề ngoài nhưng thực ra quyết định toàn bộ nhân cách và vị thế tồn tại của con người trong mắt cộng đồng.

Mạch lập luận chính:

ÝNội dung
1Ngoại hình dị thường khiến Quỳnh chịu thân phận kẻ lạc loài, bị xem là "thằng hề" mua vui.
2Ngay cả những phẩm chất đẹp (khéo léo, nhân hậu) của Quỳnh cũng bị che khuất, không ai nhận ra.
3Tình cảm bình thường của Quỳnh lại bị xem là "khác thường, kệch cỡm"; Nga "sợ" Quỳnh chứ không "ghét" như với Khải.
4Tác giả khái quát: nhân dạng không phải "nước sơn" bề ngoài, mà được cộng đồng định giá theo chuẩn mực thẩm mĩ.
5Mọi xã hội đều có quy chuẩn, và quy chuẩn ấy mang quyền lực áp đặt, loại trừ những gì lệch chuẩn, thuộc số ít.

Thông điệp: Cần nhìn lại định kiến về ngoại hình và sự kì thị với những người "khác lạ" so với số đông.


Câu 1 (hộp "Theo dõi" – trang 97)

Đề: Những lí lẽ và bằng chứng tác giả sử dụng để phân tích thái độ của các nhân vật trong truyện đối với Quỳnh.

Trả lời:

Lí lẽ:

  • Nhân dạng lạ lẫm khiến Quỳnh bị xem là kẻ lạc loài, "thuộc về một thế giới khác".
  • Khoảng cách ngoại hình che khuất mọi giá trị thật và phẩm chất đẹp của Quỳnh.

Bằng chứng (dẫn chứng từ truyện):

  • Lời nhận xét Quỳnh chỉ là "thằng hề": "Họ lấy anh làm trò tiêu khiển… lấp đầy những phút giây nhàn rỗi."
  • Chi tiết cái bàn hai chỗ ngồi của Quỳnh và Hạnh: "Bàn có hai người, nhưng mỗi người ngồi tít một đầu, chừa khoảng trống ở giữa." → biểu tượng cho khoảng cách.
  • Chi tiết "mấy chiếc chân bàn lung lay được đóng lại" mà không ai biết đó là nhờ đôi tay khéo léo của Quỳnh.

Lí do: Tác giả kết hợp lí lẽ khái quát + dẫn chứng cụ thể từ tác phẩm, làm cho nhận định về thái độ kì thị của tập thể trở nên thuyết phục, có căn cứ.


Câu 2 (hộp "Chú ý" – trang 98)

Đề: Quan điểm của tác giả về nhân dạng của con người.

Trả lời:

Quan điểm cốt lõi nằm ở đoạn (2):

  • Nhân dạng không chỉ là bề ngoài, không phải thứ "nước sơn" như câu tục ngữ thường nói.
  • Nhân dạng là của riêng một cá nhân nhưng lại được cộng đồng định giá theo chuẩn mực, quy tắc thẩm mĩ.
  • Vì vậy, một người có nhân dạng dị thường khó được thừa nhận là có tâm hồn bình thường trong mắt người khác.

Lí do tác giả nêu quan điểm này: để lật lại định kiến quen thuộc rằng ngoại hình chỉ là cái vỏ không quan trọng, đồng thời chỉ ra sức mạnh áp đặt của chuẩn mực cộng đồng lên cá nhân.


Câu 3 (hộp "Theo dõi" – cuối trang 98)

Đề: Lí giải của tác giả về cách ứng xử và phản ứng của chúng ta trước một chân dung khác lạ.

Trả lời:

Tác giả lí giải bằng góc nhìn nhân học:

  • Mọi xã hội đều tồn tại các quy chuẩn; khi thiết lập giới hạn "hợp thức", quy chuẩn đồng thời bãi trừ, gạt bỏ những gì lệch ra ngoài.
  • Từ đó hình thành cặp nhị phân bình thường / bất bình thường – áp dụng cả với trí tuệ, giới tính, hành vi và nhân dạng.
  • Với Quỳnh: sự bất bình thường về nhân dạng "mặc nhiên ấn định" cho cậu vị thế kẻ lạc loài.
  • Đáng chú ý: chính nạn nhân (Quỳnh) cũng chấp nhận cách ứng xử ấy là tự nhiên, không phản kháng → cho thấy chuẩn mực mang quyền lực áp đặt, buộc cá nhân tuân thủ mà không được phản biện.

Lí do: Cách lí giải này giúp người đọc hiểu rằng phản ứng xa cách, e sợ trước người khác lạ không phải lỗi cá nhân, mà là hệ quả của cơ chế quy chuẩn trong cộng đồng – từ đó kêu gọi ta nhìn lại và vượt qua định kiến.


Nếu bạn gửi đúng ảnh trang 99–100 (thường là phần "Sau khi đọc" với hệ thống câu hỏi đánh số), mình sẽ giải chi tiết từng câu cho bạn nhé.

Chế độ đọc sách →